kích sữa hiệu quả bit tin tức ô tô 2011 ~ Bệnh thường gặp ở trẻ em

This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Cách phòng và chữa các bệnh trẻ em thường gặp

Cách phòng và chữa các bệnh trẻ em thường gặp

Tin tức sức khỏe gia đình mới nhất

Bệnh thường gặp

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Bệnh bướu máu ở trẻ em


Tin tuc - Tuy tên gọi của bệnh dễ làm "xanh mặt" các ông bố bà mẹ nhưng thực ra bướu máu không phải là bệnh có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.

Nhiều em bé khi sinh ra đã có một vết đỏ trên da, dân gian thường gọi là cái bớt, là cách bà mụ “đánh dấu”. Vết đỏ ngày càng to ra, gây lo ngại cho nhiều phụ huynh, nhất là khi nghe tới cái tên "bướu máu".
Bệnh bướu máu không nguy hiểm cho trẻ em

Bướu máu là một bệnh lý bẩm sinh về mạch máu, nhưng rất may, đây là oại bướu lành tính, không di căn, không tái phát (nếu điều trị đúng) và nhất là không nguy hiểm chết người.

Cho đến nay y học thế giới chưa biết rõ nguyên nhân gây ra bướu máu. Tạm thờ, người ta chia làm 2 loại bướu máu:

+ Bướu máu trẻ nhỏ (Infantile hemangioma): thường xuất hiện khi bé được vài tuần tuổi đến vài tháng tuổi, dưới dạng một vết đỏ như mụn ruồi son, phát triển lớn dần đến trẻ được khoảng 6 tháng tuổi thì dừng lại, duy trì như vậy cho đến lúc 2 tuổi, sau đó thoái hóa dần đến 6 tuổi thì hoàn toàn biến mất.

+ Bướu máu bẩm sinh (congenital hemangioma): xuất hiện từ trong bào thai, khi sinh ra là đã thấy có, trong loại này người ta lại chia ra làm 2 dạng:

- Dạng thoái triển (Rapid Involuting Congenital Hemangioma) gọi tắt là RICH: một khối màu đỏ tía lớn nhỏ tùy trường hợp, và tiến triển cũng giống như loại bướu máu trẻ nhỏ.

- Dạng không thoái triển (Non Involuting Congenital Hemangioma) gọi tắt là NICH: thật là không may cho bé nào bị loại dạng này, bướu phát triển lớn dần, những cũng ở mức độ nào đó thì ngưng phát triển, và sẽ tồn tại mãi không thoái hóa.









Phương pháp điều trị bệnh bướu máu ở trẻ em

Chẩn đoán bướu máu rất dễ, chỉ cần nhìn là biết ngay, nhưng chẩn đoán loại bướu máu nào thì lại rất khó, phải biết chính xác bướu xuất hiện từ thời điểm nào. Khi chẩn đoán cần phải kết hợp siêu âm và kinh nghiệm lâm sàng của bác sĩ chuyên khoa.

Điều trị bướu máu cần dựa vào 3 yếu tố sau để có thể đưa ra hướng xử trí đúng đắn: (1) vị trí của bướu máu, (2) tốc độ phát triển của bướu máu, (3) tuổi của em bé.

Nếu bướu máu ở nơi "nhạy cảm" như gần khóe mắt, cánh mũi, khóe miệng hay môi... và phát triển có vẻ nhanh, thì ta nên can thiệp sớm càng tốt, vì nếu chẳng may bướu này thuộc loại cứng đầu hoặc phát triển lan đến mắt môi mũi làm tổn thương đến những cơ quan này trước khi nó thoái hóa, hoặc nếu để bướu quá lớn thì là một thử thách cho phẫu thuật viên, đôi khi không phẫu thuật được hoặc làm mất thẩm mỹ của gương mặt.

Nếu bướu nằm ở những nơi kín đáo như ngực, lưng, bụng, hoặc tứ chi... thì có thể chờ theo dõi, nếu quá 6 tuổi mà nó vẫn còn thì dù lớn cỡ nào cũng có thể phẫu thuật được (vì có đủ da để kéo lại sau khi cắt bướu). Có nhiều phương pháp để can thiệp như xạ trị, chạy tia, đốt laser, corticoid... nhưng nói chung trên thế giới hiện nay phẫu thuật là phương pháp chọn hàng đầu, nếu không phẫu thuật được thì mới chọn những phương pháp khác.


Hiện tại các bệnh viện tuyến chuyên khoa lớn có khoa ngoại nhi cũng đã gặp nhiều trường hợp bướu máu, thường thì chỉ theo dõi rất sát định kỳ hằng tháng để xác định sự phát triển của bướu và không cần phải can thiệp gì cả, nhưng một số trường hợp cần thiết đã được giải quyết tốt bằng phẫu thuật.





Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2011

Trẻ đái dầm – Nguyên nhân và giải pháp

Tin tuc -  Nếu trẻ dưới 5 tuổi bị chứng đái dầm, cha mẹ không nên quá lo lắng. Không cần cho con đi khám mà nên giúp đỡ trẻ đái tự chủ, ví dụ như không nên cho uống nhiều nước trước khi đi ngủ.

Nguyên nhân gây đái dầm

Về cơ chế bệnh sinh, đến nay còn nhiều điều chưa được sáng tỏ bởi việc kiểm soát tiểu tiện còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Tuy vậy, những yếu tố thường liên quan đến đái dầm là: khả năng phát triển của bàng quang không tốt, bàng quang quá nhỏ, hệ thần kinh chưa phát triển, chưa hoàn thiện…
Một số vấn đề sau đây cũng làm gia tăng chứng đái dầm:
Tâm lý căng thẳng: Trẻ bị đái dầm hay bị mặc cảm, xấu hổ, nhất là trẻ trên 10 tuổi. Cha mẹ hoặc các thành viên trong gia đình nếu cứ quát tháo, trêu chọc trẻ (hoặc cho nhiều người biết về chứng đái dầm của con mình, cháu mình) thì sẽ làm cho trẻ căng thẳng thêm, có khi chứng đái dầm lại tăng lên.
Nhiễm trùng đường niệu: Trẻ em gái gặp nhiều hơn do đặc điểm cấu tạo của niệu quản, nhất là khi vệ sinh kém. Bệnh viêm bàng quang là loại hay gặp nhất trong nhiễm trùng đường tiết niệu do viêm ngược dòng. Vì vậy khi trẻ đái dầm (nhất là trẻ em gái), cần xem xét kỹ có bị bệnh viêm bàng quang hay không.

Cách xử lý

Đối với trẻ dưới 5 tuổi bị chứng đái dầm, cha mẹ không nên quá lo lắng. Không cần cho trẻ đi khám bác sĩ mà cần giúp đỡ trẻ đái tự chủ, ví dụ như không nên cho uống nhiều nước trước khi đi ngủ. Nên đánh thức trẻ dậy đi tiểu vào những giờ cao điểm mà cháu thường đái dầm. Không la rầy, dọa nạt hoặc trêu chọc trẻ.
Nếu trẻ đã lớn và gia đình đã làm hết cách mà trẻ vẫn đái dầm thì nên cho đến bệnh viện để thử nước tiểu, siêu âm, chụp đường niệu. Thày thuốc sẽ có chỉ định điều trị thích hợp tùy theo từng loại bệnh gây ra đái dầm. Bên cạnh đó, nên động viên, giúp đỡ trẻ, không nên để cháu có mặc cảm, xấu hổ, nhất là trẻ đã lớn, nhằm tránh căng thẳng thần kinh.
Đã có một số loại thuốc tây y chữa đái dầm nhưng cần được sự chỉ định và theo dõi của thầy thuốc. Về Đông y cũng có nhiều bài thuốc hay.
Bài thuốc sau vừa đơn giản, dễ tìm, rẻ tiền vừa có hiệu quả cao (80-90%, nếu không bị viêm nhiễm, dị tật về bàng quang hay chít hẹp bẩm sinh): Gừng tươi 30 g; phá cố chỉ 12 g, phụ tử chế 6 g. Phụ tử và phá cố chỉ tán thành bột và trộn đều rồi cho gừng vào giã nát thành dạng cao, đắp vào rốn, cố định bằng băng vải, vài ngày thay một lần.